ưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi là người để lại khá nhiều dấu ấn, địa danh ở Thăng Long như: Dinh Ông Mạc, xứ đồng Ông Mạc, bến Ông Mạc, cửa ô Ông Mạc và phố Mạc Đĩnh Chi.
Đó là Mạc Đĩnh Chi tự là Tiết Phu, người làng Lũng Động, huyện Chí Linh (nay thuộc xã Nam Tân, huyện Nam Sách). Ông sinh năm Nhâm Thân (1272) trong một gia đình nông dân nghèo, nhưng tổ tiên lại là nhà khoa bảng. Cụ bốn đời của Mạc Đĩnh Chi là Mạc Hiển Tích, từng đỗ tiến sĩ năm Bính Dần, niên hiệu Quang Hựu thứ hai, triều Lý Nhân Tông, làm quan tới chức Thượng Thư (tương đương bộ trưởng ngày nay).
Mạc Đĩnh Chi nổi tiếng thần đồng, kiến thức uyên thâm ngay từ khi còn nhỏ. Niên hiệu Hưng Long thứ 12 đời Trần Anh Tông, Mạc Đĩnh Chi thi đỗ Trạng Nguyên khoa thi Thái học sinh, năm Giáp Thìn (1304). Sau đó 4 năm ông được cử đi sứ sang Tàu để giữ hòa hiếu với nhà Nguyên nhằm giữ yên bờ cõi Đại Việt. Nhờ tài ứng đối văn chương ông được vua Nguyên nể phục, phong làm "Lưỡng quốc Trạng nguyên".
Đi sứ trở về, ông được vua Trần sủng ái, tin cậy. Sang đời Trần Hiển Tông ông được sung chức Nhập nội hành khiển, tả bộc xạ, một chức vụ tương đương với Tể tướng.
Mạc Đĩnh Chi làm quan trong triều, nhà riêng của ông ở Nam Xá (có lẽ là Cơ Xá Nam) thành Thăng Long, tục gọi là dinh ông Mạc.
Chính tại dinh ông Mạc đã nảy sinh một giai thoại mà Sách Đại Việt sử ký toàn thư (tập hai - trang 109) ghi như sau: "Đĩnh Chi là người liêm khiết, sống rất đạm bạc. Vua rất hiểu ông, sai người ban đêm, đem mười quan tiền (thời bấy giờ mua được khoảng hai con trâu) bỏ vào nhà ông. Hôm sau, Đĩnh Chi vào chầu, tâu vua hay chuyện đó. Vua bảo không ai đến nhận, cho khanh lấy mà tiêu".
Mạc Đĩnh Chi thưa: "Tâu hoàng thượng, nếu tiền đó do hạ thần đổ công đổ sức làm ra thì mới là của hạ thần chứ. Tự nhiên mà ăn sẵn thì thần không bao giờ dám làm; xin hoàng thượng cho nhập vào công quỹ". Mạc Đĩnh Chi để bao tiền đó rồi vái lạy nhà vua, ra về.
Bóng quan trạng vừa khuất ngoài cánh cửa, vua cười nói: "Quan trạng nguyên quả là người chính trực. Nghe đồn đại nhiều về đức tính thanh liêm của ông, nay trẫm mới tin là dân chúng ca ngợi không ngoa. Số tiền kia có phải ở đâu xa lạ. Chính đêm qua, trẫm sai người để trước dinh ông Mạc, xem ông ta xử lý thế nào? Ai ngờ mới sáng ra ông ta đã mang đến nhập kho. Thật là một vị quan liêm khiết".
Câu chuyện mười quan tiền trước dinh ông Mạc từ đó, được nhân dân khắp kinh thành truyền tụng.
+ Bia chùa Thanh Nhàn dựng năm Canh Hưng thứ 28 (1767) có ghi: "Ở kinh đô, tại phường Yên Xá, xứ đồng Ông Mạc, có một gò đất từ xưa vẫn coi là một ngọn núi".
Như vậy ở Thăng Long có nhiều xứ đồng trong đó có xứ đồng Ông Mạc. Trong sách "Toàn thư" có ghi: "Tháng 11 năm Canh Tý (1600) làm cầu phao qua sông Cái ở bến Ông Mạc".
Như vậy là sông Cái, đoạn qua Thăng Long, có nhiều bến, trong đó có một bến gọi là bến Ông Mạc.
+ Trong dịp ra kinh đô chữa bệnh cho Thái tử Cán, Hải Thượng Lãn Ông có viết trong Thượng kinh ký sự: "Ngày mồng 10 tháng 9 (âm lịch) từ sáng tinh mơ, còn trăng, tôi đi ra cửa ô ông Mạc. Cửa thành chưa mở, lính canh thấy có thẻ "Hành quân phù" mới mở cửa cho đi".
Như vậy là Thăng Long có nhiều cửa ô, trong đó có cửa ô Ông Mạc (nay là cửa ô Lãng Xuyên).
Ngoài ra, ở Hà Nội còn có phố Mạc Đĩnh Chi, nằm trong khu vực bán đảo Ngũ Xã bên bờ đồng, hồ Trúc Bạch. Ở phố này còn có ngôi đình của thôn Ngũ Xã, nay là số nhà 13, thờ Nguyễn Minh Không, tương truyền là ông tổ của nghề đúc đồng. Tên phố này có từ thời Pháp thuộc.
Như vậy, danh nhân Mạc Đĩnh Chi của Hải Dương đã để lại khá nhiều dấu ấn, địa danh ở Thăng Long như: Dinh Ông Mạc, xứ đồng Ông Mạc, bến Ông Mạc, cửa ô Ông Mạc và phố Mạc Đĩnh Chi. Hiếm thấy danh nhân nào có được vinh dự lớn lao như thế, để lại tới 5 địa danh ở Thăng Long - Hà Nội và một giai thoại về đức liêm khiết, mà tới nay, hơn 700 năm sau, người dân Việt Nam còn lưu luyến nhắc đến.
LƯU ĐỨC Ý
DiSanVietNam
Thứ Năm, 30 tháng 6, 2011
Lãm Sơn Tự - Đại trụ rồng đá Đất Việt
Một tuyệt tác điêu khắc được tạc vào năm Quảng Hữu thứ 22 (1086), cột đá chùa Dạm với tên chữ “Lãm Sơn Tự” là công trình lưu truyền cho hậu thế một giá trị nghệ thuật đặc sắc của điêu khắc thời Lý - một nền điêu khắc đặc sắc bậc nhất trong lịch sử nghệ thuật Việt Nam.

Phần còn lại của Đại trụ rồng đá (Ảnh: TG).
Trơ gan cùng tuế nguyệt gần 1.000 năm qua, công trình điêu khắc độc nhất vô nhị này vẫn giữ trong lòng không ít bí mật chưa được khám phá.
Như một huyền thoại
Thời gian gần đây, Kinh Bắc rộ lên thông tin về những “báu vật” mới được phát hiện, như mộ tổ nhà Lý ở Dương Lôi (còn nghi vấn), khuôn đúc trống đồng ở Luy Lâu (duy nhất có ở Việt Nam), lò gốm cổ Đương Xá (thế kỷ X, sớm nhất ở Việt Nam, còn nguyên vẹn), tượng có cốt xương thiền sư Như Trí (thời Lê, tại chùa Tiêu)... Tuy nhiên, khi lập danh sách hiện vật để đề nghị được công nhận là “bảo vật quốc gia” lên Cục Di sản Văn hoá, Bảo tàng tỉnh Bắc Ninh vẫn liệt cột đá chùa Dạm là bảo vật đứng đầu. Men theo hàng trăm bậc được làm từ những phiến đá rêu phủ, chúng tôi tìm lên chùa để chiêm ngưỡng công trình tuyệt kỹ của cha ông. Cột đá Lãm Sơn Tự đứng vững chãi phía ngoài khuôn viên nhà chùa, một mặt tựa lưng vào núi Đại Lãm, một mặt hướng về phía Đông bao quát được cả một khoảng không rộng đến hàng nghìn mét vuông. Phần còn lại của cột đá hiện nay cao hơn 5 mét.

Cụ Phạm Thị Tẹo giới thiệu về dấu tích của chùa Dạm xưa (Ảnh: TG).
Xét về niên đại, nhiều nhà nghiên cứu thống nhất rằng cột đá chùa Dạm được tạc từ thế kỷ XI. Sự bí ẩn, kỳ lạ của cột đá này trước hết ở chỗ có rất nhiều giả thuyết cho rằng đây là một cột cờ. Phần trên của cột đá, có những hốc được đục vuông vắn, có giả thuyết cho đó là những mố để dựng một ngôi chùa một cột xưa kia. Tuy nhiên, giả thuyết được nhiều nhà khảo cổ học, nghiên cứu văn hóa lịch sử đồng tình, thì cột đá chùa Dạm là chiếc Linga, một biểu tượng trong tín ngưỡng phồn thực dân gian có nguồn gốc từ văn hóa Chămpa. Nhưng cũng có giả thuyết khác cho rằng, trên đỉnh cột đá cũng có thể là tòa sen, chứ không nghiêng về giả thuyết ngôi chùa trên đỉnh cột. Bởi hình tượng rồng đội tòa sen là mô típ rất phổ biến ở trong các ngôi chùa Việt. Những di vật thời Lý, như ở pho tượng A Di Đà của chùa Phật Tích, ở đế bệ hình bát giác có trang trí những hình rồng, những hình rồng này đều nằm ở phía dưới tòa sen, là nơi Phật an tọa. Nhưng đến nay, tất cả đều chỉ dừng lại ở giả thuyết.
Báu vật bị lãng quên
Tất cả sẽ không bị đưa vào màn bí ẩn nếu cột đá còn nguyên bản. Nhưng theo truyền khẩu của nhân dân địa phương, khoảng thế kỷ XVI cây cột đã bị sét đánh gãy. Cụ Phạm Thị Tẹo, người tình nguyện trông coi chùa kể: “Người xưa kể rằng, cột đá là tấm bia để tưởng nhớ đến tinh thần giữ nước của một người dân Việt...”. Tương truyền, người Trung Quốc yểm Cao Biền ở đất này để xâm chiếm nước ta. Họ nhờ một người dân đốt lần lượt 100 nén hương, cháy hết thì Cao Biền sẽ dậy. Nhưng người này, sau khi biết âm mưu của người Trung Quốc đã đốt 100 nén cùng một lúc, dẫn đến việc Cao Biền phải dậy non, không đủ sức mạnh để chiếm nước ta”. Cho dù đó chỉ là một truyền thuyết, nhưng tích “Cao Biền dậy non” vừa là niềm tin, vừa là niềm tự hào của tinh thần ý thức bảo vệ đất nước của người dân Việt.

Ông Phạm Mạnh Tập khoe giấy chứng nhận kỷ lục Việt Nam (Ảnh: TG).
Cụ Tẹo cho biết thêm, cột đá thiêng không phải là thứ đá lấy ở núi Lãm, bởi vùng này không có thứ đá đặc biệt đó. Ở trên một ngọn núi cao, hiểm trở, người đi bộ còn vất vả thì việc làm sao các bậc tiền nhân đưa đá được lên núi cũng là điều bí ẩn. Giải thích điều này, ông Phạm Mạnh Tập, Trưởng Ban quản lý chùa Dạm cho biết, loại đá để tạc Lãm Sơn Tự người ta chỉ tìm thấy ở Đông Triều, Thiên Thai, Phả Lại. Rất có thể đá được đưa bằng đường sông Hồng về. Để đưa được đá về đây, người ta phải đào ngòi Con Tên, dẫn đến tận chân núi. Nhưng một khối đá to như thế, đưa lên núi bằng cách nào thì không ai biết. “Ngày trước, nhà khoa học Hoàng Lê sau khi về nghiên cứu đã đề ra giả thuyết là đá được nghiền ra rồi mang lên núi mới đắp. Nhưng nếu tận mắt xem phần gãy phía trên đỉnh cột mới thấy đó là một khối đá nguyên bản, thể hiện những đường vân của thớ đá chứ không phải theo kiểu phạt ngang” - ông Tập nói.
Khoe với tôi rằng, Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam vừa xác lập kỷ lục chùa Dạm có cột đá chạm rồng lớn nhất Việt Nam nhưng ông Tập không khỏi băn khoăn: “Người dân sở tại luôn ước nguyện một ngày nào đó phục dựng lại nguyên vẹn kiến trúc cho chùa Dạm, nhưng khát vọng này xem ra còn rất xa vời. Cột đá chùa Dạm từng được nhiều nhà nghiên cứu xưng tụng, coi là báu vật hàng đầu của quốc gia vẫn ngày ngày nằm đó trong quên lãng thờ ơ của con người đương đại”.

Toàn cảnh Lãm Sơn Tự nhìn từ trên cao xuống, phía trước là ngòi Con Tên (Ảnh: TG).
Đứng dưới chân cột đá thiêng, nhìn về phía ngòi Con Tên chúng tôi cảm tưởng được những chứng tích lịch sử của thời cha ông dựng và giữ nước. Nhưng nay, đại danh lam này phải chịu cảnh điêu tàn và không biết bao giờ mới được đánh thức. Đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội đang đến gần, nhiều di tích lịch sử quan trọng được tôn tạo, thế nhưng chùa Dạm - một trong những công trình bề thế của triều đại nhà Lý thì vẫn đang bị lãng quên.
-----------------------

Sử sách ghi lại rằng, chùa Dạm được vua Lý Nhân Tông cho xây dựng vào năm 1086 trên sườn núi Đại Lãm, còn gọi là núi Dạm, mất 9 năm mới xong. Ngày nay, núi Dạm thuộc về xã Nam Sơn, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Ngôi chùa còn có nhiều tên gọi khác: chùa Đại Lãm, Cảnh Long Đồng Khánh tự, chùa Tấm Cám. Gọi là chùa Tấm Cám, vì chùa được khởi dựng để làm nơi tu hành của Nguyên phi Ỷ Lan, cũng là nơi khởi nguồn truyện cổ tích Tấm Cám, trên núi hiện còn một cái giếng có tên gọi là Bống. Hiện tại, nền thứ ba và bốn của ngôi chùa vẫn còn dấu tích chùa và đền thờ Bà Tấm - Nguyên phi Ỷ Lan. Ở đây còn tấm bia đá nhỏ, khắc năm Chính Hòa thứ 17 (1696) cao 0,65m, rộng 1,40m. Bia “Đại Lãm Thần Quang tự tân tạo Hộ Pháp” cho biết trước đây chùa chưa có Hộ Pháp và hàng ngàn người làm việc phúc, tu bổ chùa, dựng thêm tượng. Ngoài ra, ở di tích chùa Dạm còn tìm được phần đầu tượng đá Kim Cương. Các chân đế cột bằng đá cỡ lớn chạm khắc hoa văn đẹp của công trình thời Lý còn sót lại và nhiều mảnh đất nung hình con vịt, con rồng, hoa lá...

Phần còn lại của Đại trụ rồng đá (Ảnh: TG).
Trơ gan cùng tuế nguyệt gần 1.000 năm qua, công trình điêu khắc độc nhất vô nhị này vẫn giữ trong lòng không ít bí mật chưa được khám phá.
Như một huyền thoại
Thời gian gần đây, Kinh Bắc rộ lên thông tin về những “báu vật” mới được phát hiện, như mộ tổ nhà Lý ở Dương Lôi (còn nghi vấn), khuôn đúc trống đồng ở Luy Lâu (duy nhất có ở Việt Nam), lò gốm cổ Đương Xá (thế kỷ X, sớm nhất ở Việt Nam, còn nguyên vẹn), tượng có cốt xương thiền sư Như Trí (thời Lê, tại chùa Tiêu)... Tuy nhiên, khi lập danh sách hiện vật để đề nghị được công nhận là “bảo vật quốc gia” lên Cục Di sản Văn hoá, Bảo tàng tỉnh Bắc Ninh vẫn liệt cột đá chùa Dạm là bảo vật đứng đầu. Men theo hàng trăm bậc được làm từ những phiến đá rêu phủ, chúng tôi tìm lên chùa để chiêm ngưỡng công trình tuyệt kỹ của cha ông. Cột đá Lãm Sơn Tự đứng vững chãi phía ngoài khuôn viên nhà chùa, một mặt tựa lưng vào núi Đại Lãm, một mặt hướng về phía Đông bao quát được cả một khoảng không rộng đến hàng nghìn mét vuông. Phần còn lại của cột đá hiện nay cao hơn 5 mét.

Cụ Phạm Thị Tẹo giới thiệu về dấu tích của chùa Dạm xưa (Ảnh: TG).
Xét về niên đại, nhiều nhà nghiên cứu thống nhất rằng cột đá chùa Dạm được tạc từ thế kỷ XI. Sự bí ẩn, kỳ lạ của cột đá này trước hết ở chỗ có rất nhiều giả thuyết cho rằng đây là một cột cờ. Phần trên của cột đá, có những hốc được đục vuông vắn, có giả thuyết cho đó là những mố để dựng một ngôi chùa một cột xưa kia. Tuy nhiên, giả thuyết được nhiều nhà khảo cổ học, nghiên cứu văn hóa lịch sử đồng tình, thì cột đá chùa Dạm là chiếc Linga, một biểu tượng trong tín ngưỡng phồn thực dân gian có nguồn gốc từ văn hóa Chămpa. Nhưng cũng có giả thuyết khác cho rằng, trên đỉnh cột đá cũng có thể là tòa sen, chứ không nghiêng về giả thuyết ngôi chùa trên đỉnh cột. Bởi hình tượng rồng đội tòa sen là mô típ rất phổ biến ở trong các ngôi chùa Việt. Những di vật thời Lý, như ở pho tượng A Di Đà của chùa Phật Tích, ở đế bệ hình bát giác có trang trí những hình rồng, những hình rồng này đều nằm ở phía dưới tòa sen, là nơi Phật an tọa. Nhưng đến nay, tất cả đều chỉ dừng lại ở giả thuyết.
Báu vật bị lãng quên
Tất cả sẽ không bị đưa vào màn bí ẩn nếu cột đá còn nguyên bản. Nhưng theo truyền khẩu của nhân dân địa phương, khoảng thế kỷ XVI cây cột đã bị sét đánh gãy. Cụ Phạm Thị Tẹo, người tình nguyện trông coi chùa kể: “Người xưa kể rằng, cột đá là tấm bia để tưởng nhớ đến tinh thần giữ nước của một người dân Việt...”. Tương truyền, người Trung Quốc yểm Cao Biền ở đất này để xâm chiếm nước ta. Họ nhờ một người dân đốt lần lượt 100 nén hương, cháy hết thì Cao Biền sẽ dậy. Nhưng người này, sau khi biết âm mưu của người Trung Quốc đã đốt 100 nén cùng một lúc, dẫn đến việc Cao Biền phải dậy non, không đủ sức mạnh để chiếm nước ta”. Cho dù đó chỉ là một truyền thuyết, nhưng tích “Cao Biền dậy non” vừa là niềm tin, vừa là niềm tự hào của tinh thần ý thức bảo vệ đất nước của người dân Việt.

Ông Phạm Mạnh Tập khoe giấy chứng nhận kỷ lục Việt Nam (Ảnh: TG).
Cụ Tẹo cho biết thêm, cột đá thiêng không phải là thứ đá lấy ở núi Lãm, bởi vùng này không có thứ đá đặc biệt đó. Ở trên một ngọn núi cao, hiểm trở, người đi bộ còn vất vả thì việc làm sao các bậc tiền nhân đưa đá được lên núi cũng là điều bí ẩn. Giải thích điều này, ông Phạm Mạnh Tập, Trưởng Ban quản lý chùa Dạm cho biết, loại đá để tạc Lãm Sơn Tự người ta chỉ tìm thấy ở Đông Triều, Thiên Thai, Phả Lại. Rất có thể đá được đưa bằng đường sông Hồng về. Để đưa được đá về đây, người ta phải đào ngòi Con Tên, dẫn đến tận chân núi. Nhưng một khối đá to như thế, đưa lên núi bằng cách nào thì không ai biết. “Ngày trước, nhà khoa học Hoàng Lê sau khi về nghiên cứu đã đề ra giả thuyết là đá được nghiền ra rồi mang lên núi mới đắp. Nhưng nếu tận mắt xem phần gãy phía trên đỉnh cột mới thấy đó là một khối đá nguyên bản, thể hiện những đường vân của thớ đá chứ không phải theo kiểu phạt ngang” - ông Tập nói.
Khoe với tôi rằng, Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam vừa xác lập kỷ lục chùa Dạm có cột đá chạm rồng lớn nhất Việt Nam nhưng ông Tập không khỏi băn khoăn: “Người dân sở tại luôn ước nguyện một ngày nào đó phục dựng lại nguyên vẹn kiến trúc cho chùa Dạm, nhưng khát vọng này xem ra còn rất xa vời. Cột đá chùa Dạm từng được nhiều nhà nghiên cứu xưng tụng, coi là báu vật hàng đầu của quốc gia vẫn ngày ngày nằm đó trong quên lãng thờ ơ của con người đương đại”.

Toàn cảnh Lãm Sơn Tự nhìn từ trên cao xuống, phía trước là ngòi Con Tên (Ảnh: TG).
Đứng dưới chân cột đá thiêng, nhìn về phía ngòi Con Tên chúng tôi cảm tưởng được những chứng tích lịch sử của thời cha ông dựng và giữ nước. Nhưng nay, đại danh lam này phải chịu cảnh điêu tàn và không biết bao giờ mới được đánh thức. Đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội đang đến gần, nhiều di tích lịch sử quan trọng được tôn tạo, thế nhưng chùa Dạm - một trong những công trình bề thế của triều đại nhà Lý thì vẫn đang bị lãng quên.
-----------------------

Sử sách ghi lại rằng, chùa Dạm được vua Lý Nhân Tông cho xây dựng vào năm 1086 trên sườn núi Đại Lãm, còn gọi là núi Dạm, mất 9 năm mới xong. Ngày nay, núi Dạm thuộc về xã Nam Sơn, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Ngôi chùa còn có nhiều tên gọi khác: chùa Đại Lãm, Cảnh Long Đồng Khánh tự, chùa Tấm Cám. Gọi là chùa Tấm Cám, vì chùa được khởi dựng để làm nơi tu hành của Nguyên phi Ỷ Lan, cũng là nơi khởi nguồn truyện cổ tích Tấm Cám, trên núi hiện còn một cái giếng có tên gọi là Bống. Hiện tại, nền thứ ba và bốn của ngôi chùa vẫn còn dấu tích chùa và đền thờ Bà Tấm - Nguyên phi Ỷ Lan. Ở đây còn tấm bia đá nhỏ, khắc năm Chính Hòa thứ 17 (1696) cao 0,65m, rộng 1,40m. Bia “Đại Lãm Thần Quang tự tân tạo Hộ Pháp” cho biết trước đây chùa chưa có Hộ Pháp và hàng ngàn người làm việc phúc, tu bổ chùa, dựng thêm tượng. Ngoài ra, ở di tích chùa Dạm còn tìm được phần đầu tượng đá Kim Cương. Các chân đế cột bằng đá cỡ lớn chạm khắc hoa văn đẹp của công trình thời Lý còn sót lại và nhiều mảnh đất nung hình con vịt, con rồng, hoa lá...
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)